10 TRUYỆN NGẮN HAY 2014: MỘT VÀI GHI
NHẬN
Lê Văn Tấn - Nguyễn Văn Nhượng
Cũng đã trên
10 năm rồi tôi mới lại cầm bút viết những dòng suy nghĩ của mình về truyện ngắn
nói chung và top truyện ngắn hay hằng năm nói riêng của Văn nghệ. Nhưng sự theo dõi của tôi thì lại thường xuyên bởi từ
ngày “hạ sơn” về phố, cứ việc nọ việc kia, năm nào cũng vậy, tôi chờ đợi để
được biết xem 10 truyện ngắn được vinh danh trong một năm có đúng như suy nghĩ
của mình hay không? Cũng lạ, đã nghiêng hẳn sang làm văn học cổ cũng từ ngày đó
mà không làm sao dứt được niềm vui khi đọc truyện ngắn đương đại.
Vốn là một thể
loại có sức hút mạnh mẽ, truyện ngắn là một thể loại luôn có chỗ đứng vững chãi
trong lòng độc giả bởi thế mạnh khai thác tâm trạng, đi sâu vào một lát cắt của
từng số phận, từng niềm vui nỗi buồn, từng góc khuất nổi chìm của con người,
của cõi nhân sinh, của thời thế, thế thời… Với hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ và
truyền dẫn cực nhanh những thông điệp mới mẻ, truyện ngắn có nội khí, sức dồn
nén về tư tưởng. Ấn phẩm 10 truyện hay năm nay đã được tuyển chọn bởi một ban
biên tập có trách nghiệm, nghiêm túc và thực sự trăn trở với sự trưởng thành
của thể loại này đối với nền văn học nước nhà trong giai đoạn hiện nay. Mười
truyện ngắn hay 2014, có 6 tác giả nam đều đã đứng tuổi và 4 tác giả nữ đều còn
rất trẻ, thuộc nhiều miền khác nhau của đất nước. Số tác giả trên liệu có sự
dịch chuyển, hay có dụng ý nào chăng của Ban biên tập? Cầm ấn phẩm trên tay,
theo thói quen làm việc của mình, cộng với bản tính vốn hay lạc quan, tôi hình
dung trong đầu sẽ đọc từ đầu đến cuối. Sau khi đọc xong, ấn tượng mạnh hơn cả
với tôi là ở các tác giả trẻ, văn viết có giọng điệu, đầy nữ tính và khá sắc
sảo trong cách nhìn, cách cắt nghĩa vấn đề, từ đó ta có quyền hy vọng sẽ có
nhiều truyện ngắn hay hơn nữa của nhóm tác giả này.
Không
gian và con người miền núi được quan tâm phản ánh với nhiều nét đặc trưng trong
các truyện ngắn “Mầm đắng” của Tống
Ngọc Hân, “Mười lăm ngàn núi” của Văn
Thành, “Đắng lình” của Nông Văn Kim.
Sự lựa chọn giá trị sống trong cuộc mưu sinh hôm nay được khắc họa nổi bật qua
các truyện “Cây son ngừ” của Vũ Thanh
Lịch, “Sông trăng” của Nguyễn Thu
Hằng. Bên cạnh những truyện ngắn trên, “Người
đàn bà hát ru” của Lê Thanh Kỳ, “Đêm
thị xã” của Nguyễn Hiền Lương, “Ngủ
trên vai Huệ” của Nguyễn Thị Việt Hà, “Nợ
nhân gian” của Mai Tiến Nghị, “Trái
chín cây” của Ma Văn Kháng tiếp tục đi sâu khám phá các mối quan hệ người
và số phận bi kịch buồn đau, cay đắng của kiếp nhân sinh. Sau đây tôi sẽ ghi
lại những suy nghĩ hết sức thành thực của mình về từng truyện, cũng có thể đó
chỉ là một cách nhìn mang thiên kiến cá nhân của chúng tôi mà thôi.
* * *
“Thật thà cũng thể lái trâu/ Thương nhau cũng
thể nàng dâu mẹ chồng”, ca dao xưa hẳn có thể còn có cái để nói song chính
tác giả lại đặt mình vào một thử thách. Còn viết được cái gì đây khi đi vào một
đề tài “xưa như trái đất”? Mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu và theo như chúng
tôi nghĩ thì các mối quan hệ khác cũng vậy, luôn chất chứa những mâu thuẫn. Tôi
không có ý bàn về triết học ở đây chỉ muốn chia sẽ rằng: một người con gái sống
với cha mẹ đẻ của mình hàng mấy chục năm trời, đùng một cái “nhảy” vào ở nhà
người khác (nhà chồng). Tâm lí của gã chồng thì chả nói bởi cứ trực mâu thuẫn
thì họ (chồng với vợ) đã sẵn có tình yêu và những phương thức hóa giải nên
“trong vẫn ấm mà ngoài vẫn êm”, “nhẹ như ru” nếu hai bên tìm được “tiếng nói
chung”. Đằng này, mẹ chồng, và cô con dâu nữa, cả hai bên lại không có những
điều đó. Mà tâm lí chiếm đoạt, sở hữu thì luôn tiềm tàng ở con người. Họ chả có
gì để hóa giải; hòa giải thì có. Việt Nam có cả hội hòa giải cơ mà! Thế
nên từ wiew của bà mẹ, gái thì yêu dâu thì ghét, gái nạt chồng thì mẹ lấy làm
vui, dâu nạt chồng thì mẹ nhìn mẹ ghét, âu đó cũng là lẽ thường tình. Nhưng
thời đại đã khác, nhận thức của con người cũng khác. Khai thác mảng đề tài mẹ
chồng - nàng dâu, Ma Văn Kháng - cây bút văn xuôi có tiếng, đã ít nhiều có cách
nhìn riêng về một vấn đề đã cũ, rất cũ nhưng không phải lỗi thời. Truyện ngắn
(1) “Trái chín cây” của Ma Văn Kháng mở đầu bằng một chi
tiết nhẹ nhàng, ấm áp. Quyên, cô con gái “lỡ thì”, đến đưa mẹ mình từ nhà anh
trai về nhà mình sống. Người đọc lần theo câu chuyện “Trái chín cây” - một hình
ảnh ẩn dụ chỉ bà cụ Hàn, để chứng kiến cuộc sống sinh hoạt rất đỗi đời thường
trong gia đình bà cụ. Ngôn ngữ miêu tả bình dị, giàu chất tạo hình, khả năng am
tường sâu sắc tâm lý nhân vật của tác giả “Mùa
lá rụng trong vườn” đã khiến người đọc có ấn tượng với nhân vật bà cụ Hàn -
một bà cụ bề ngoài, đáo để đành hanh, “ngang ngược”, nhớ dai, hay vặn vẹo, hay
suy luận tạo duyên cớ bắt bẻ, lúc sâu sắc lẽ đời, lúc lại hồn nhiên như con
trẻ, “lúc bao dung cao cả, khi lại chuyên chế, hẹp hòi”… Tất cả cái tính cách
bề ngoài phức tạp ấy, chính là “một biểu hiện của chứng nhiễu loạn tâm thần khi
tuổi già bước vào thời đoạn tính khí thất thường, trái tính trái nết” mà những
người con lại chưa đủ nhận thức để hiểu mẹ mình. Đó là nguyên nhân không đáng
có cho những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình. Đọc truyện, ta vẫn thấy toát
lên hình ảnh bà cụ Hàn là một người hết mực yêu thương, lo toan cho con cái
ngay khi cụ cáu bẳn nhất. Chúng ta có muôn vàn lý do để không quan tâm thấu
hiểu tâm lý người già để rồi “Ta đi trọn
kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” là vì vậy… Cô con dâu và
con trai đều ngã ngửa người trước sự ra đi bất ngờ của mẹ. Xót xa ân hận thì đã
muộn, bởi họ đã không hiểu hết tấm lòng người mẹ “tình yêu của mẹ với con, một
sứ mệnh trần thế cao cả, một tình yêu thực sự là một cơn giằng xé quyết liệt từ
trong tâm linh, nó đòi hỏi trọn vẹn, tuyệt đối, nó vô hạn, và triệt để tự do”.
Sự ra đi của bà cụ chứa một thông điệp sâu xa, thức tỉnh mỗi người con hãy biết
thấu hiểu và trân trọng tình mẹ, đừng để vì “non người trẻ dạ, ăn nói không
biết đường” mà tổn thương những tình cảm tốt đẹp trong gia đình. Bi kịch gia
đình nhiều khi đều đến từ những vụn vặt mà lại không hề nhỏ bé, từ những sự “để
dành”, “gom góp” những mâu thuẫn nhỏ nhặt ấy từ cuộc sống hằng thường. Truyện
giàu chất triết lý nhân sinh. Nhân vật bà cụ tên Hàn, (nghĩa là lạnh) đã để lại niềm ưu tư, xúc động
trong lòng người đọc. Ma Văn Kháng có ưu thế trong việc sử dụng lời ăn tiếng
nói trong đời sống vào tác phẩm để làm nổi bật tính cách nhân vật, đặc biệt là
ở nhân vật cụ Hàn. Cả một đoạn dài trước khi chuyển sang đoạn hai của truyện,
nhà văn đã ít nhiều lôi cuốn được người đọc bởi sự tuôn chảy của dòng ý thức
nhân vật… Tuy vậy, truyện nói chung cũng còn dàn trải, có đoạn “tự nghị luận”
hơi dài, đọc mệt. Nhan đề truyện dễ gây hiểu lầm. Thiển ý của tôi cứ lấy câu ca
xưa đặt tên truyện lại có vẻ hay “Mẹ già
như trái chín cây” mặc dầu tôi hiểu ý đồ của tác giả. Nhân vật người con
dâu được xây dựng theo kiểu “vắng mặt” để bất ngờ xuất hiện ở cuối truyện bằng
lời độc thoại khiến độc giả… không thể xúc động được. Đọc xong truyện của một
cây bút mà chúng tôi từng rất khâm phục, thực lòng toan bỏ không đọc tiếp các
truyện sau. Cũng lạ!
Theo dõi báo Văn nghệ
khá thường xuyên, lâu nay tôi đã từng rất, rất xúc động trước những truyện ngắn
viết về phụ nữ của tác giả trẻ Tống Ngọc
Hân ở Lào Cai qua truyện ngắn “Hoa
bìm bìm trong mưa”, nay vẫn giọng văn bình dị tự nhiên, giàu nữ tính, chị
lại khiến tôi xúc động với truyện ngắn (2) “Mầm
đắng” - một tác phẩm mang đầy không khí miền sơn cước. Đề tài và hẳn nhiên
thì chủ đề của nó cũng không có gì mới. Cái khó của Hân là viết thế nào, tiếp
cận ra sao, tạo tình huống sao cho hấp dẫn để ít nhất người đọc còn thấy một
đôi nét là của chị. Hãy xem: truyện xoay quanh cuộc đời số phận đầy bi kịch của
cô gái Giáy. Một cô gái út trong gia đình đông con, tuổi thơ cô bị đánh cắp bởi
cái nghèo khó, lòng ích kỉ hẹp hòi. Cô sống gian nan, cơ cực bên người cha khát
tiền, máu lạnh và người mẹ vô tình. Vượt lên trên hoàn cảnh, cô lại là người
thông minh, rắn rỏi, bản lĩnh, ham hiểu biết, luôn khát khao đổi thay, có được
một cuộc sống tự do, tốt đẹp. Nhưng cuộc đời luôn mang đến cho cô những bất
hạnh. Trong một dung lượng không dài, tác giả đã thật khéo léo dựng lên những
chi tiết, những tình huống bất ngờ, những khúc quanh nghiệt ngã, những bước
ngoặt éo le để bộc lộ tính cách và số phận nhân vật. Cô cố thoát khỏi gia đình
để có việc làm, để rồi lại mất việc, để rồi lại trở về nhà sau bao chết chóc
của người thân và sự điên cuồng của người cha. Tưởng yên thân sau bao sóng gió
dập vùi, nào ngờ sự tham lam trắng trợn, sự vô cảm của người cha lại đẩy cô vào
con đường buôn bán phụ nữ và trẻ em. Cuộc đời cô bị ném vào một vòng quay, một
trò đùa của số phận. Khắc hoạ nhân vật này tác giả không chỉ đồng cảm, sẻ chia
mà còn quyết liệt lên án vấn nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em đang nhức nhối hiện
nay, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa. Trên ý nghĩa ấy truyện có ý nghĩa thời
sự nhất định. Kết thúc là tiếng kêu thảm thiết, đớn đau trong máu và nước mắt
của người mẹ trẻ mất con. Tác giả đã động đến được sâu thẳm tâm can của người
đọc trong bao nỗi nghẹn ngào, xa xót. Nghèo khó, thất học, tham lam và tội ác
phải chăng đang là cái vòng luẩn quẩn bám riết lấy con người, khiến con người
sập bẫy trong vô vọng, lầm than. Thiết nghĩ đến là con gái mình mà còn hành xử
như thế, tôi không thể hiểu nổi những người như ông ta đang tìm kiếm cho mình
giá trị gì trong cuộc sống của mình, cho con? Và họ sẽ hành xử như thế nào với
đồng loại? Những mảng tối của cuộc sống xã hội hôm nay cứ ngỡ như phi lý vậy mà
vẫn đang hằng ngày hằng giờ tồn tại khiến bạn đọc cứ “giật mình thon thót” về
sự hiện hữu của cái ác. Cái đang tồn tại, cứ tồn tại như trêu ngươi thì… nghĩa
là “hợp lý”? Sợ thật! Như thế, với một đề tài không có gì mới, dù ít dù nhiều,
tác giả Tống Ngọc Hân đã tiếp tục gây được thiện cảm với người đọc. Chư a thực sự cuốn hút và cách kết thúc cũng không mấy bất
ngờ, dụng công của người viết bị lộ song tôi đánh giá cao sự trưởng thành của
cây bút nữ này và hi vọng chị sẽ tiếp tục có những sáng tạo ở một trình độ và
chất lượng nghệ thuật cao hơn trong thời gian tới.
(3)
“Người đàn bà hát ru” của Lê Thanh Kỳ, “viết y như nó có, là truyện của đời thường nhạt nhẽo, có đặc
sắc gì đâu” (Lời tác giả). Truyện xoay quanh một nông trường chè sau khi
chuyển sang khoán, mấy chục con người, sau cùng còn lại 12 người đàn bà không
chồng, vẫn quyết bám trụ, tụ hợp nhau lại trong một dãy nhà cùng ăn ở, cùng
làm. Chị Duân - đội trưởng, dù có phần bảo thủ và luôn quyết liệt trong mọi
việc, song chất thanh niên xung phong vẫn còn âm ỷ trong con người, khiến chị
bất chấp quy luật khách quan. Khi cơn bão tư nhân đang đánh sập các hợp tác xã
làm ăn tập thể, chị vẫn quyết tâm giữ gìn nó, cố níu kéo nó như một giá trị,
như cũng để níu kéo lại một phần quá khứ oai hùng của những năm tháng chiến
đấu, chỉ với khát vọng được sống bên nhau đoàn kết yêu thương, chan hòa no đói
có nhau. Chính vì vậy, chị hết lòng vun đắp cho cái tập thể “12 trái tim đã
phát hương suốt một thời con gái…”. Lõi của câu chuyện nằm ở việc phản ánh đời
sống tình cảm riêng tư của các chị. Khi Doanh không cưới xin mà mang bầu, mọi
người phản đối, nhất là chị Duân. Nhưng kể từ khi có bé trai chào đời, khu nhà
tập thể ấm áp vui tươi lạ thường. Thằng bé như một bảo vật thiêng liêng, là tài
sản chung ai cũng có quyền ngắm nghía, chăm sóc, cưng nựng … bằng tất cả tình
yêu thương. Chiến tranh đã đi qua rất lâu, người ta có thế kịp phá đi những quả
bom chưa nổ, lấp lại những hố bom năm xưa… nhưng quả thật những khoảng trống
trong tâm hồn, những khát khao bản năng, nỗi cô đơn phận người của những nữ
thanh niên xung phong sau ngày trở về không dễ gì bù lấp nổi. Họ phải vật lộn
trước những đổi thay không cưỡng lại được của thời đại. Khát vọng tuổi xuân qua
đi, khát vọng mái ấm gia đình thì không được. Họ sống trong ngổn ngang bao nỗi
trăn trở, bao niềm cô đơn… “Đứa con chung” của 12 chị xuất hiện, đem đến niềm
vui sưởi ấm dãy nhà trống vắng hơi đàn ông của các chị. Một chi tiết gây được
niềm thương cảm, đắng đót là khi Doanh chứng kiến cảnh chị Duân, ôm con mình
“lấy hai ngón tay, kẹp lôi đầu vú bị thụt vào trong, đút vào miệng đứa trẻ”,
thằng bé không bú được, chị nhìn nó và cười. Một ước mơ rất đỗi giản dị với bao
người phụ nữ, sao với chị lại xa vời đến thế?. Trớ trêu hơn, tình yêu của những
người cùng cảnh ngộ cũng không đủ sức mạnh níu giữ, Doanh đã ôm con bỏ đi tìm
hạnh phúc cho mình trong niềm bơ vơ, hoảng hốt của 11 người còn lại. Kết truyện
là những lời đồn, dù thực hay hư nhưng cũng gieo vào lòng người đọc nhiều tâm
trạng buồn vui lẫn lộn. Chị Duân đã có gia đình ấm êm hay vẫn đi hát ru cho
tình đời tình người bạc bẽo? Cuộc đời của chị và bao thanh niên xung phong
trong thời bình hôm nay, vẫn/vốn còn đó như một huyền thoại… Truyện viết có dư
ba, phảng phất sắc màu cổ tích, liêu trai, mặc dù đã quá cũ. Hay là độc giả quá
“tỉnh táo” để không mấy tin vào những “chuyện như đùa” đó? Trên ý nghĩa nào thì
tôi cũng không thích lắm cách lồng ghép, đồng hiện của tác giả về hình tượng
của Duân cuối tác phẩm. Và bản thân tôi, không hiểu sao lâu nay vẫn cứ nghĩ
rằng, ngay cả cuộc sống hằng thường, mọi sự cứ để nó “tự nói”, lặng lẽ lại bền
chặt, sâu xa hơn khi chúng ta cứ phải “nói thay”? Huống chi là nghệ thuật, lại
là short-stories thì… cái hình thức “thêm thắt” cuối cùng: “Mấy lời của tác giả” nên bỏ đi và nếu
tác giả “cảm thấy tiếc” thì tác giả có thể gom góp để lại… viết kí. Dẫu sao mặc
lòng, tôi đã đọc một mạch để hết truyện.
Vẫn
với đề tài miền núi, (4) “Mười lăm ngàn
núi” của Văn Thành, với chúng
tôi, ít gây được ấn tượng. Có lẽ không phải là ở đề tài, cũng không phải ở chủ
đề mà hình như là ở cách viết. Tác giả dựng lại mối tình đôi trai gái của hai
dòng họ có mối thù truyền kiếp là Sầm Sa Phủ và Mã Ô Mai. Sau lần gió trăng, cuộc đời Sa Phủ là một chuỗi dài vật vờ
lang thang trong đau khổ, dằn vặt. Mạch truyện, đôi chỗ thiếu tự nhiên, gò bó
sắp đặt. Truyện kể như truyền thuyết thời hiện đại, thiếu độ chân thực nhất
định cần có… Tác giả dường như cố gắng kể, tả để câu chuyện nhuốm màu cổ tích
huyền thoại nhưng đề tài câu chuyện như không mấy hấp dẫn. Những tích truyện
kiểu này dường như tôi đã gặp nhiều ở đâu đó… Truyện cứ như thiếu thiếu cái gì
đó để đủ lôi cuốn độc giả. Quả thật là chúng tôi đã đọc lướt cho xong bởi tôi
không thực sự bị cuốn vào nội dung của câu chuyện mà chỉ là để cố gắng tìm xem
một vài đoạn có chất văn chương. Nhưng không nhiều và có đoạn Văn Thành cố gắng
dùng các thủ pháp nhân hóa kết hợp với so sánh, liên tưởng… nhưng xem ra cứ
gắng gượng thế nào ấy: “Lúc này, kèn lá
như nguồn sinh khí mới khi được phụ họa bằng cả dàn hợp xướng vĩ đại của chim
hót, suối reo, gió núi, mây ngàn. Chở nhịp điệu của trời cao, đất rộng, xoay
vần trong vũ trụ bất tận, biến đổi từng khoảnh khắc. Lúc mạnh mẽ như triều
dâng, thác đổ. Khi khoan thai, dìu dặt, chìm lắng, suy tư. Cao độ, giai điệu
được vô thức dẫn đường sẽ tạo ra tráng ca và biến chúng thành bất hủ. Người nghệ sĩ dân gian không chỉ thể hiện
bằng tài năng nhưng trình tấu bằng cả trái tim, cả linh hồn. Và ngàn đời
như thế, tự nhiên được sinh ra phải được tự do cất tiếng. Và chỉ có giai điệu
của tự tại mới có thể đánh thức nhau…”. Trong đoạn văn trên, câu văn chúng
tôi in đậm là một câu văn sai ngữ pháp. Và nếu như nói thêm một điều gì nữa về
truyện ngắn này thì chúng tôi thấy rằng, hình tượng Sầm Sa Phủ thiếu sự nhất
quán, logic lỏng lẻo. Sầm Sa Phủ trước và Sầm Sa Phủ sau cứ như hai người khác
nhau vậy.
Thời
còn dạy học ở Tây Bắc, khi vợ sinh con (NVN), chúng tôi cũng được đồng bào dân
tộc cho một thứ huyết khô, gói trong túi bông thấm gọi là huyết lình, ngâm
trong nước có màu đỏ chót, rất tanh. Chỉ nghe công dụng nhưng không dám dùng,
vì tôi không phải không tin nhưng mà… trong hoàn cảnh ấy tôi cũng chẳng dám cho
người nhà mình trải nghiệm. Dẫu rằng, kinh nghiệm dân gian cũng có cái kỳ bí và
độc đáo của nó. Cách ứng xử của mỗi người trong hoàn cảnh này sẽ khác nhau và
thực ra thì từ đó, bất kỳ có một “va chạm” nào, dù chỉ là trong trí nhớ, tôi
vẫn muốn có một lần được tự mình kiểm chứng. Giống như cái lần tôi đã mục sở
thị về việc truyền năng lượng thiên nhiên để chữa bệnh của một thầy (còn khá
trẻ). Tôi đã ngồi vào trong vai một người bệnh (lúc đó tôi đang có bệnh thật,
bệnh nhức mắt và đau đầu) để thầy truyền “khí công” (từ thầy vẫn hay dùng) chữa
cho tôi. Sau khoảng 10-15 phút gì đó, tôi đứng dậy và… tất cả đều như lúc đầu.
Không có bất kỳ sự thay đổi gì cả. Tôi đã chỉ dám… cười và nói với thầy: có lẽ
“thuốc” này của thầy không hợp với em. Vào google tìm kiếm mãi mà chả thầy chỗ
nào nói về “đắng lình”. Tôi chợt ngẫm hay chăng là sự khác nhau của cách gọi,
của từ ngữ. Đọc truyện (5) “Đắng lình” của Nông Văn Kim trong một
tư thế như vậy nên công dụng của nó dù là có thật, rất thật (theo tác giả!!!)
nhưng thực lòng mà nói, tôi không quan tâm nhiều đến “đắng lình” với tư cách là
một vị thuốc. Tôi quan tâm hơn đến nó với tư cách là chất liệu để tác giả xây
dựng tình huống và cốt truyện. Tác giả kể câu chuyện của cha con ông Căng -
người có cơ duyên đến được hang Thẳm Lình, để lấy thứ thần dược ấy. Nhưng cơ
chế thị trường, lòng tham lam, sự giả trá đã tàn phá đi vốn quý, khiến người
chân chính phải ra đi. Mượn câu chuyện để cảnh báo việc giữ gìn tài nguyên và
nền văn hóa của cha ông, ý đồ tư tưởng của tác giả cũng đáng để trân trọng. Chỉ
có điều, theo chúng tôi, truyện thêu dệt nhiều chi tiết ly kì khó tin, nặng về
tính tuyên truyền, nhẹ tính văn chương. Cứ nghĩ một điều rằng với thể loại khó
tính như truyện ngắn mà tác giả lại để lộ ý đồ của mình thì “non tay” quá. Lời
tác giả “Tôi viết những dòng này, hy vọng
những bạn đọc có sự đồng cảm, hãy chung tay làm những việc cụ thể để bảo vệ tài
nguyên và nền văn hóa cha ông ta đã giữ gìn từ bao đời nay” quả thật đáng
trân trọng nhưng ở tình huống này nó, hình như không mấy tác dụng. Tôi cứ muốn
một cái gì hơn thế và chợt ngộ ra rằng, cốt truyện này có thể “tái tạo” để mở
và cô đọng là tùy tác giả để chúng ta có một tác phẩm khác. Nhưng không phải
truyện ngắn mà là ký sẽ hấp dẫn hơn. Nông
Vă n Kim là cây bút quen và cũng
thuộc vào thế hệ của những người viết có tuổi, nhiều truyện ngắn khác của ông
đã chiếm được cảm tình của tôi song quả thật, đây là truyện mà tôi không thấy
hấp dẫn. Ngôn ngữ, cách hành văn còn khá đơn giản, thiếu sự say mê, có nhiều
yếu tố, thành phần thiếu tính chuẩn xác: “… Hồi
ấy lời đồn về kho vàng vẫn như đang ngọn lửa lúc cháy âm ỷ, lúc lại bùng lên.”,
“Hôm đầu tiên vào đến Thẳm Lình, ông thực
sự ngỡ ngàng như vào động tiên, trong câu chuyện cổ tích…”, “Thượng vàng hạ cám có cả, ngăn trên là thuốc
chữa bệnh, nó nói, có thuốc Tây bên Ca na đa gửi về, thuốc Trung y cổ truyền
của cụ Hoa Đà từ thời Tam Quốc…”…
(6)
“Cây son ngừ” của tác giả trẻ Vũ Thanh
Lịch viết khá chắc, giọng kể nhẹ nhàng, không thực sự lôi cuốn song đọc
được. Có chất văn. Cuộc vật lộn mưu sinh, phát triển đi lên của hai làng, cuộc
đấu tranh giữ hay bỏ, để hay chặt cây son ngừ của ông bà Quận Liên là dòng mạch
chính của câu chuyện. Cây son ngừ là kỉ vật quý giá sau chiến trận được ông
Quận chăm sóc nâng niu cẩn thận. Ông đã gắn bó máu thịt mấy chục năm, và cũng
mấy chục năm ấy, cây đã cứu sống biết bao người. Thời thế đổi thay, “ngày xưa
họ khen bao nhiêu… giờ mai mỉa bấy nhiêu”. Sự thật trớ trêu, phũ phàng đang
giằng xé con người ông Quận, mặc dù không phải tất cả những suy nghĩ của ông
đều đúng. Bà Liên thì sẵn sàng phán xét, đánh đổi các giá trị quá khứ bằng cái
nhìn chối bỏ cây son ngừ đã một thời danh giá khắp làng trên xóm dưới. Song
không có nghĩa là bà sai cả. Mới hay, cái gọi là giá trị chỉ mang ý nghĩa tương
đối và giá trị sẽ thay đổi, có thể được bổ sung, lại cũng có thể bị lược bỏ khi
thời thế, hoàn cảnh đã thay đổi. Sự tương thích, hòa hợp giữa con người với con
người cũng cần phải được nhìn nhận ở nhiều chiều kích và điều quan trọng hơn cả
là bản thân họ phải tìm được một tiêu chí, hay một hệ giá trị chung mà cùng
hướng tới. Tất cả, ông Quận hay bà Liên đều có cái đúng, đều rất thành thực.
Vậy mà…? Hãy xem, đây là lời ông Quận bật ra trong nghẹn ngào: “- Bà đã tính ký chưa? Tôi thì tôi chả muốn
chặt tí nào.”. Còn đây là dòng cảm xúc tuôn trào của bà Liên: “- Kỹ lắm rồi, ông đừng có để ma nó ám nữa, nó
ám cả đời ông chưa đủ à, từ trẻ đến già chỉ beiets bám đít dê, phơi mặt ra đá,
rúc đầu vào hang, ông không chán à…”. Cảm giác này của ông Quận cũng thành
thực: “Nghe bằng ấy âm tiết phát ra từ
cái miệng ông đã âu yếm ôm hôn hàng chục năm trời… đột nhiên ông lợm giọng…”…
Cái kết mở chứa một câu hỏi lớn, thời buổi này cần phải phát triển và đi lên
bằng cách nào? Cần bảo tồn cái gì và như thế nào? Chỉ cần nhắm mắt bất chấp,
cái giá phải trả hẳn sẽ không rẻ. Hãy biết trân trọng quá khứ và ứng xử cho hợp
đạo lý, đừng ai chưa khỏi rên đã quên… “son ngừ”. Ý nghĩa câu chuyện lắng đọng
một suy tư. Vũ Thanh Lịch viết có chất văn, hoàn toàn có thể tin tưởng về sự
trưởng thành của cây bút này trong thời gian tới.
Giữa cuộc sống bộn bề toan tính hôm nay, (7)
“Sông trăng” của Nguyễn Thu Hằng có
lẽ đã đem đến cho người đọc những giây phút thảnh thơi, thả lắng hồn mình để
trở về, để sống lại những kí ức tuổi thơ lam lũ nghèo khó mà hồn nhiên thanh
khiết. Tôi đã thích câu chuyện này ngay từ những dòng đầu: “Con sông ấy vẫn trôi trở về trong những giấc
mơ của nó. Nước sông mát rượi, luôn lấp lánh những vảy vàng vảy bạc và ngát một
hương thơm rất con gái. Cái hương thơm ngòn ngọt và chợt mơ màng như có mùi cỏ
mần trầu lá bưởi bồ kết ủ trong suối tóc thôn nữ của chị Thoan. Cái thơm lịm
ngọt của lúa đồng hát ca trong nắng hanh và vi vút gió chiều…”. Dường như
bao giờ cũng vậy, những người mẹ, người chị khi đi vào trong văn chương đều có
nét giống nhau ở đức hy sinh, sống một đời tần tảo vất vả vì đàn con, đàn em
của họ. Chị Thoan là một người như vậy, mẹ mất gánh nặng gia đình với người cha
và bốn đứa em đang tuổi lớn dồn trút lên đôi vai của chị. Đọc truyện, chúng tôi
lại nhớ đến hình ảnh người chị trong “Bến sông buồn” của Trầm Nguyên Ý Anh, in
trên Văn nghệ, số 49, ngày 08/12/2001. Chỉ tiếc sự tảo tần nuôi em ăn học của
Thoan không đưa đứa em đến cuộc sống làm ăn lương thiện đàng hoàng. Nó - gọi
một cách phiếm chỉ - em gái Thoan cũng như bao cô gái khác ra thành phố học
hành tử tế, nhưng cuộc sống mưu sinh, cái nghèo, sự choáng ngợp của đồng tiền,
chỉ một chút lơ là buông xuôi, thiếu bản lĩnh đã trở thành một cô gái bao, mất
hết vẻ chân phương hiền dịu của một cô gái quê thuần hậu. Cô lao vào làm tiền
để gửi cho gia đình bằng tất cả tấm thân trong trắng của mình và cuối cùng chết
trong nỗi niềm đau đớn, cay cực của cuộc đời, sau khi biết mình mắc căn bệnh
thế kỉ. Cô lại về với dòng sông trăng hiền hòa đã ru vỗ suốt một thời tuổi thơ
chị em cô, cô trở về trong lặng im xé lòng của người ở lại. Truyện viết có chất
văn chương, giàu chất thơ và gây được nhiều thương cảm, nhức nhối trong lòng
người đọc. Truyện có ý nghĩa thời sự ở một chiều hướng nào đó của xã hội hiện
nay. Giới trẻ cũng nên đọc để chiêm nghiệm và thấm thía hơn cho con đường lựa
chọn lý tưởng và giá trị sống cho bản thân mình. Điều băn khoăn còn lại của
chúng tôi khi đọc xong truyện ngắn này chính là ở chỗ bước ngoặt mang tính định
hướng của một sự lựa chọn cuộc đời ở Thoan. Nguyễn Thu Hằng “làm tắt” quá khiến
mạch truyện trở nên thiếu tính thuyết phục. Một người như em của Thoan, ít nhất
với những nhận thức và trải nghiệm như thế thì việc sa ngã không thể quá đơn
giản và nhanh đến vậy. Tất nhiên cái hậu quả mà cô phải gánh chịu thì dễ hiểu.
Chúng tôi thắc mắc là một đứa con gái sôi sục, khuôn phép, chuẩn chỉnh ở đầu
truyện lẽ nào lại là đứa con gái mất nết ở đoạn sau? Có cái gì như chưa thực sự
thuyết phục mặc dù trên thực tế những sự đổi thay đến chóng mặt trong một con
người là điều có thật. Nhân vật chị Thoan và Thảo còn quá mờ nhạt, mặc dù vẫn
biết là nhân vật phụ. Mà sự mờ nhạt của nhân vật (trong truyện ngắn) không phải
do dung lượng mà là do cách khắc họa của tác giả. Đó chính là chỗ, theo tôi là
sự phân biệt, tất nhiên tương đối, giữa một truyện ngắn hay và một truyện ngắn
xoàng. Dẫu thế, chúng tôi vẫn đánh gia cao và thích nghệ thật tự sự của tác
phẩm này, nhưng chỉ phần đầu và phần cuối thôi.
(8)
“Đêm thị xã” của Nguyễn Hiền Lương
thì nặng về ghi chép thuần túy người và việc, ít chất văn, chất truyện, chỉ là
kỉ niệm của anh bộ đội tên Long, tranh thủ về thăm nhà trong một đêm trước ngày
đi B, tình cờ trên đường về gặp một cô gái tên Xuân, làm tự vệ, xung kích của
một xí nghiệp đầu máy, rồi nảy sinh tình cảm, rồi hứa hẹn… Họ chia tay, chàng
trai lên đường chiến đấu. Sau chiến thắng trở về, anh mới biết tin Xuân đã hy
sinh ngay trong đêm hai người chia tay. Chị đã hy sinh không tìm thấy xác, khi
chưa đọc được bức thư tỏ tình của chàng trai. Những cuộc tình éo le, trắc trở
như trên hẳn không hiếm giữa những năm bom đạn chiến tranh, kiểu như “Quê hương” của Giang Nam, “ Núi đôi” của Vũ Cao vậy. Thực ra nó đã
được phản ánh khai thác, khắc họa nhiều trong văn học. Chiến tranh khốc liệt,
những sự dang dở, lỡ làng, những đau đớn, mất mát, chia lìa trong tình cảm đôi
lứa âu cũng đã được đào xới nhiều. Không cắt nghĩa và có cái nhìn mới được một
vấn đề đã cũ, hẳn khó gây được ấn tượng với bạn đọc. Tình huống truyện và kể cả
thời gian (tất nhiên có khi thời gian không phải là cái quyết định) chưa đủ,
mặc dù có thật để họ gửi trao. Chúng tôi vẫn nghĩ như thế để cho rằng tình cảm
của cả hai bên dành cho nhau rất chân thành nhưng lại khiến người ngoài cuộc
cảm thấy không thiêng liêng, nó cứ chưa tới thì phải? Tác giả Nguyễn Hiền Lương
muốn tạo một cái bất ngờ hay “sét đánh” gì đó, mặc dù “sét đánh” rất nhẹ giữa
hai con người trong một cảnh huống đầy bất ngờ để thiêng hóa một điều giản dị
trong hằng thường cuộc sống. Chỉ có điều, chúng tôi vẫn có cảm giác mọi việc
hơi nhạt, gượng. Gượng như chính tình cảm họ dành cho nhau. Mặc dù tất cả đều
có thật, rất thật. Sao nhỉ? Đó chính là chỗ mà tác giả cần suy ngẫm để chấp bút
cho những cốt truyện sau của mình. Chúng tôi chờ đợi và hy vọng!
Tác giả trẻ Nguyễn Thị Việt Hà gần đây xuất hiện
khá thường xuyên trên văn đàn. Truyện (9) “Ngủ
trên vai Huệ” của chị có giọng văn khá mượt mà, mềm mại, giọng văn ấy như
chảy ra từ trong tim, đưa/bắt người ta vào câu chuyện cuộc đời đầy cảm động của
Hiệp và Huệ. Cuộc hôn nhân cưới vội trước ngày mất không lâu của mẹ Huệ, không
được bình yên và thuận lợi như chính tên hai đứa con của anh chị. Oái oăm thay,
27 tuổi, sau hơn 4 năm chung sống hạnh phúc, anh bị mắc ung thư và từ giã gia
đình trong niềm xót xa tiếc thương của người thân. Người mẹ trẻ và hai đứa con
thơ sẽ sống ra sao trong những ngày còn lại: thiếu anh, thiếu cha. Nội dung của
truyện thì không có gì đáng nói vì nó không lạ. Song quả thật cách triển khai
và tổ chức truyện của Việt Hà khá ổn. Nhiều mảng màu hiện thực đan xen, lồng
ghép, hòa quyện trong dòng chảy tự sự có nghề. Đó chính là điểm mạnh nhất của
truyện ngắn này, theo chúng tôi. Cái kết truyện khá nghẹn ngào, xúc động. Một
triết lí nhân sinh hé lộ để người đọc nghiệm suy. Cuộc đời con người thì hữu hạn, cõi người thì thực vô
thường. Và quả là không ai có thể biết được rồi số phận mình sẽ bị/phải đẩy đưa
thế nào. Từ một câu chuyện thực, nhân vật chính trong câu chuyện thỉnh cầu tác
giả chép lại mà để lại nhiều dư ba ám ảnh. Truyện có sự đan xen của nhiều dòng
cảm xúc mà vẫn thống nhất, tự nhiên không gò bó. Truyện rất đáng đọc, đọc để
cảm thông, chia sẻ với những mất mát đau thương trong bể khổ trầm luân của kiếp
người. Thời gian tới chắc chắn bạn đọc sẽ còn được đọc nhiều tác phẩm khác của
cây bút đầy triển vọng và ít nhiều đã xác lập được một phong cách này.
(10)
“Nợ nhân gian” của Mai Tiến Nghị lại
có lối kể ít nhiều độc đáo, tình huống cũng có thế cho là hấp dẫn, nhiều chi
tiết đắt. Nhan đề dung dị nhuốm màu tôn giáo, chứa đựng chiều sâu tư tưởng của
tác phẩm. Trong “Cung oán ngâm” có
câu: “Ngẫm thân phù thế mà đau/ Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê”. Chúng sinh
sinh ra trong mê lầm khổ ải. Lão Viên, nhân vật chính trong truyện, làm nghề mổ
chó, nhờ gian manh, quỷ quyệt mà trở nên giàu có, vợ con đàng hoàng; nhờ thủ
đoạn mà hai thằng con trai lão không phải đi lính. Lão đắc ý và tự hào về những
điều đó. Sau cái chết của vợ, con trai nghiện ngập chết, để lại đống nợ, tài
sản khánh kiệt, lão thành kẻ ăn mày với cái tên mới “Chín Dúm” - cái tên gọi,
chất chứa sự nghèo khổ tủi nhục và sự khinh khi của người đời. Lão lầm lũi sống
cơ cực trong những năm tháng còn lại để trả nợ nhân gian, âu cũng là lẽ đời có
luật nhân quả vậy. Lão đã chiêm nghiệm và ngộ ra điều đó. Sau mỗi ngày đi ăn
xin, bao nhiêu viên đá lão nhặt về là bấy nhiêu lần lão bị hắt hủi, chửi rủa.
Lão chấp nhận, và lấy làm vui vì mình đã gây nghiệp ác ở ngay cõi này, nên giờ
phải chuốc lấy để trả nợ đời. Tấm lòng nhân hậu của ông giáo Nghĩa đã giúp lão
có người trò chuyện, cảm thông và phó thác trước lúc chết. Dẫu biết cuộc đời là
“sinh kí, tử quy” nhưng hẳn ai đọc truyện cũng không dứt ra được sự ám ảnh về
kiếp người ngắn ngủi thoáng qua như ánh chớp, có rồi lại không, để rồi ta chợt
giật mình tự hỏi ta đã làm gì, đã làm được gì, đã mất gì và phải trả giá ra
sao? Trăn trở của thầy Nghĩa trong truyện vẫn văng vẳng: “Ô hay, đến người ăn mày mà cũng cần một ấm bia trên ngôi mộ của mình.
Và tấm bia ấy lại được làm bằng những viên đá mạt ghi dấu những lần bị người
đời hắt hủi… Tấm bia càng to càng nhẹ lòng vì nghĩ rằng mình đã trả được nhiều
nợ cho đời”. Cuộc đời hẳn sẽ bớt được bao đau buồn nếu con người ta biết
sám hối, biết thức tỉnh, biết dừng lại mà đi tiếp. “Số” hay “mệnh” dẫu chưa hẳn
là hoàn toàn có thực nhưng nhân vi của mỗi người sẽ góp phần đáng kể cho một
đường hướng ở con người. Bởi cái gọi là được hay mất, thành hay bại, có hay
không… cũng chỉ là tương đối. Mai Tiến Nghị kể chuyện lúc nào cũng đáo để, góc
cạnh đến tận cùng vấn đề. Truyện giàu chất triết lý nhân sinh cao đẹp và đó
hình như là phong cách của tác giả này? Trong số các tác giả nam có mặt lần
này, chúng tôi cho rằng, tác giả của “Nợ nhân gian” sáng giá hơn cả.
* * *
Tóm lại, trong
mười truyện ngắn hay được tuyển chọn năm nay, ghi được ấn tượng mạnh nhất đối
với chúng tôi là các truyện của nhóm cây bút nữ. Họ
viết khá vững vàng, có chất văn, nhiều triển vọng và hy vọng họ sẽ tiến xa hơn
trên con đường nghệ thuật. Và để xếp hạng thì thiển ý của chúng tôi sẽ là: 1- “Sông trăng”, 2- “Mầm đắng”, 3- “Ngủ trên vai
Huệ”, 4- “Nợ nhân gian”,5- “Cây son ngừ”, , 6- “Người đàn bà hát ru”, 7- “Đắng
lình”, 8- “Trái chín cây” 9- “Mười lăm ngàn núi”, và 10- “Đêm thị xã”. Mặc dù, mỗi cách tuyển chọn
đều có tiêu chí riêng của nó. Nhưng nếu thử ví 10 truyện ngắn trên tiêu biểu
cho bộ mặt truyện ngắn trong năm qua thì thấy bức tranh cuộc sống với biết bao
vấn đề nóng hổi vẫn chưa được phản ánh nhiều chiều, nhiều góc khuất... Đọc
xong, có cảm tưởng vẫn còn thiếu vắng những cách tân đột phá, trống vắng sự thể
hiện những khía cạnh tiêu cực, phức tạp của cuộc sống muôn màu muôn vẻ, lại rất
tinh vi ngày hôm nay. Nhiều mảng ghép cuộc sống còn khá màu mỡ, nhất là những
đề tài “nóng” trên mọi phương diện vẫn bị/ cố tình bỏ ngỏ. Hẳn nhiên những điều
này, rất cần được các tác giả tiếp tục quan tâm, khám phá và khai thác nhiều
hơn nữa. Với tư cách của người đọc, chúng tôi đã thành thực chia sẻ với nhau
những suy nghĩ và cùng nhau viết những suy nghĩ đó ra để chia sẻ với bạn đọc.
Ngõ hầu góp một tiếng nói, dù cá nhân về đời sống văn nghệ đương đại Việt Nam .
Chỉ có điều là chúng tôi vẫn muốn một cách làm khác, nhưng phải là ngay từ đầu
năm 2015 để chuẩn bị cho “việc này năm sau”./.
Địa chỉ liên hệ:
TS. Lê Văn Tấn
Học viện Khoa học xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam
Đt: 01238159729
Email: tanlv0105@gmail.com

Đăng nhận xét